111
Gốc > TRI THỨC CUỘC SỐNG - CHIA SẺ KINH NGHIỆM > VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT >
Thanh Y @ 16:51 30/03/2013
Số lượt xem: 661
Luật thơ lục bát
I. Thơ lục bát
1. Đặc điểm:
1. Số “tiếng” của mỗi dòng được quy định: dòng 6 tiếng (lục), dòng 8 tiếng (bát) và cứ như vậy kế tiếp nhau.
2. Cách hiệp vần: Tiếng cuối dòng lục vần với tiếng thứ 6 dòng bát, rồi tiếng cuối dòng bát lại vần với tiếng cuối dòng lục. Như vậy dòng bát có 2 vần: vần lưng ở tiếng thứ 6 và vần chân ở tiếng thứ 8.
VD:
Khóc than khôn xiết sự tình
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
Đã không duyên trước chăng mà
Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau
Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
hoặc:
Nửa năm hơi tiếng vừa quen
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
3. Về ngắt nhịp: Nhịp chẵn là chủ yếu, trong đó nhịp đôi là cơ sở. Đôi khi có những linh hoạt.
VD:
Trăm năm / trong cõi / người ta
Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau.
4. Về thanh (thanh ngang và thanh huyền gọi là thanh bằng, các thanh sắc, hỏi, ngã, nặng là thanh trắc): Thường là tiếng thứ hai thanh bằng, tiếng thứ tư thanh trắc, tiếng thứ 6 và 8 thanh bằng. Các tiếng ở vị trí lẻ tự do theo luật: “nhất tam ngũ bất luận”.
VD:
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
5. Nếu có tiểu đối ở dòng lục, có thể thay đổi thanh: tiếng thứ hai và thứ tư cùng là thanh trắc:
VD:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
hoặc:
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
hoặc:
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
6. Về thanh, còn có luật cao - thấp: Nếu tiếng thứ 6 của dòng bát là thanh ngang thì tiếng thứ 8 cũng của dòng ấy là thanh huyền và ngược lại.
VD:
Hãy xin hết kiếp liễu bồ
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.
1. Đặc điểm:
1. Số “tiếng” của mỗi dòng được quy định: dòng 6 tiếng (lục), dòng 8 tiếng (bát) và cứ như vậy kế tiếp nhau.
2. Cách hiệp vần: Tiếng cuối dòng lục vần với tiếng thứ 6 dòng bát, rồi tiếng cuối dòng bát lại vần với tiếng cuối dòng lục. Như vậy dòng bát có 2 vần: vần lưng ở tiếng thứ 6 và vần chân ở tiếng thứ 8.
VD:
Khóc than khôn xiết sự tình
Khéo vô duyên bấy là mình với ta.
Đã không duyên trước chăng mà
Thì chi chút đỉnh gọi là duyên sau
Rút trâm sẵn giắt mái đầu
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần.
hoặc:
Nửa năm hơi tiếng vừa quen
Sân ngô cành biếc đã chen lá vàng.
3. Về ngắt nhịp: Nhịp chẵn là chủ yếu, trong đó nhịp đôi là cơ sở. Đôi khi có những linh hoạt.
VD:
Trăm năm / trong cõi / người ta
Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau.
4. Về thanh (thanh ngang và thanh huyền gọi là thanh bằng, các thanh sắc, hỏi, ngã, nặng là thanh trắc): Thường là tiếng thứ hai thanh bằng, tiếng thứ tư thanh trắc, tiếng thứ 6 và 8 thanh bằng. Các tiếng ở vị trí lẻ tự do theo luật: “nhất tam ngũ bất luận”.
VD:
Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng đoán giữa trần ai mới già
Một lời đã biết đến ta
Muôn chung nghìn tứ cũng là có nhau.
5. Nếu có tiểu đối ở dòng lục, có thể thay đổi thanh: tiếng thứ hai và thứ tư cùng là thanh trắc:
VD:
Mai cốt cách, tuyết tinh thần.
hoặc:
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.
hoặc:
Trai anh hùng, gái thuyền quyên
Phỉ nguyền sánh phượng, đẹp duyên cưỡi rồng.
6. Về thanh, còn có luật cao - thấp: Nếu tiếng thứ 6 của dòng bát là thanh ngang thì tiếng thứ 8 cũng của dòng ấy là thanh huyền và ngược lại.
VD:
Hãy xin hết kiếp liễu bồ
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.
Thanh Y @ 16:51 30/03/2013
Số lượt xem: 661
Số lượt thích:
0 người
 
- Cách làm thơ Thơ lục bát (30/03/13)
- Cách Làm Thơ Đường Luật (28/03/13)

Các ý kiến mới nhất