LANGUAGE TRANSLATION

12 AEMN


NHÀ MÌNH ONLINE !

Tiến Quốc
Tố Uyên
Thuý Hằng
Linh Sương
Vũ Mai
Nguyễn Duyên
Chi Uyên
Minh Anh
Châu Tuấn
Thành Nhân
Chí Thành
Đức Thiệu

QT của thầy Văn Ngãi

danh mục nội dung web mmtt

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GD

    XIN KÍNH CHÀO

    3 khách và 0 thành viên

    111

    Gốc > TRI THỨC CUỘC SỐNG - CHIA SẺ KINH NGHIỆM > VĂN HỌC-NGHỆ THUẬT >

    Cách Làm Thơ Đường Luật

    Cách Gieo Vần, Nguyên Tắc Đối, Luật Bằng Trắc và Cách Họa 

    Thơ Đường Luật còn có những tên gọi khác nhau như: Thơ Đường, Đường Thi, Thất Ngôn Bát Cú và Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Thơ Đường Luật có 2 loại: Tứ Tuyệt (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 4 câu) và Bát Cú (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 8 câu). 

    A- Thể Thất Ngôn Bát Cú 

    I- Cách Gieo Vần: Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau: 
    - Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ơi thì đi với ơi, vần tâm thì đi với tâm hoặc tầm. 
    - Trong bài thơ có 5 chữ vần được gieo ở cuối câu đầu (câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (2, 4, 6 và 8). Ngoài việc các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8 phải cùng một vần ra, cả 5 chữ mang vần đó phải khác nhau, trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (Ví dụ: dặm trường và mái trường or trái mơ và giấc mơ…)- Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hương, thương, trường... Nếu gieo vần thưa với thây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên. 

    II- Nguyên Tắc Đối: Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ý, tình, và thể loại từ ngữ, v.v... Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v... 
    Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề ) Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết. 

    1. Đề gồm có hai phần: 
    - Phá đề (câu thứ 1): 
    Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà, 
    - Thừa đề (câu thứ 2): 
    Cỏ cây chen đá, lá chen hoa. 

    2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4): Hai câu này phải đối với nhau.

    Lom khom dưới núi, tiều vài chú, 
    Lác đác bên sông, chợ mấy nhà. 

    Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự ) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. 

    3. Luận (câu thứ 5 và câu thứ 6): Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc 
    thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về tình cảm. Hai câu này phải đối với nhau.

    Nhớ nước, đau lòng con quốc quốc 
    Thương nhà, mỏi miệng cái gia gia 

    Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. Đau lòng đối với mỏi miệng (trạng từ ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ ) và trắc đối với bằng. 

    4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8): Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc. 

    Dừng chân đứng lại: trời, non, nước, 
    Một mảnh tình riêng ta với ta 

    (Qua Đèo Ngang—Bà Huyện Thanh Quan) 

    Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với tình riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng. 

    III- Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc gồm có Thanh, Luật, và Niêm. 

    1. Thanh-Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc. 

    a) Thanh Bằng-là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, trinh...) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (vi’ dụ như: mà, hoàng, thành, trình...) 

    Thanh trắc-Là những tiếng hay chữ có dấu sắc (') dấu hỏi (?) dấu ngã (~) và dấu nặng (.). Ví dụ: Nhớ, tưởng, lữ, vọng …

    2. Luật-Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc. 

    a) Luật Bằng: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng. Ví dụ:

    Vu vơ dạo bước ngắm trời xinh 

    Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B = Bằng, T = Trắc và V = Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau: 

    1. B B T T T B B (V) 
    2. T T B B T T B (V) 
    3. T T B B B T T 
    4. B B T T T B B (V) 
    5. B B T T B B T 
    6. T T B B T T B (V) 
    7. T T B B B T T
    8. B B T T T B B (V) 

    Ví dụ: 

    Mời cô đến với góc vườn thơ
    Khánh tiếng lung lay gót nhẹ chờ
    Thi vận mực tươi hoa khẽ hé
    Hoạ âm giấy liễng nhạc đường tơ 
    Nghe mưa tí tách buông màn khói
    Thử gió vi vu thoảng giấc mơ
    Một cách gieo hồn đùa lãng tử
    Bài này chớ để ngó chơ vơ
    (Nhã Uyên) 


    Luật Trắc: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc. Ví dụ: 

    Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng

    Luật Trắc Vần Bằng-Luật Trắc Vần Bằng như sau: 

    1.T T B B T T B (V) 
    2.B B T T T B B (V) 
    3.B B T T B B T 
    4.T T B B T T B (V) 
    5.T T B B B T T 
    6.B B T T T B B (V) 
    7.B B T T B B T 
    8.T T B B T T B (V) 

    Ví dụ: 

    Văng VẲNG tai NGHE tiếng KHÓC gì? 
    Thương CHỒNG nên KHÓC tỉ TÌ tị 
    Ngọt BÙI, thiếp NHỚ mùi CAM thảo, 
    Cay ĐẮNG, chàng ƠI, vị QUẾ chị 
    Thạch NHŨ, trần BÌ, sao ĐỂ lại, 
    Quy THÂN, liên NHỤC, tẩm MANG đị 
    Dao CẦU, thiếp BIẾT trao AI nhỉ? 
    Sinh KÝ, chàng ƠI, tử TẮC quỵ 

    (Bà Lang Khóc Chồng—Hồ Xuân Hương) 

    Chú Thích: Những chữ CAPITALIZED (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, còn những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. Mẹo để nhớ: 

    Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận 
    Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh 

    Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; còn chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật thì gọi là thất luật. 

    3. Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau

    Ví du: Luật Bằng 

    Câu 1 niêm với câu 8 
    1.B B T T T B B (V)
    8.B B T T T B B (V) 

    Câu 2 niêm với câu 3 
    2.T T B B T T B (V) 
    3.TT B B B T T 

    Câu 4 niêm với câu 5 
    4.B B T T T B B (V) 
    5.B B T T B B T 

    Câu 6 niêm với câu 7 
    6.T T B B T T B (V) 
    7.T T B B B T T 


    Ví dụ: Luật Trắc 

    Câu 1 niêm với câu 8 
    1. T T B B T T B (V) 
    8. T T B B T T B (V)

    Câu 2 niêm với câu 3 
    2. B B T T T B B (V) 
    3. B B T T B B T 

    Câu 4 niêm với câu 5 
    4. T T B B T T B (V) 
    5. T T B B B T T

    Câu 6 niêm với câu 7 
    6. B B T T T B B (V) 
    7. B B T T B B T 


    Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay vì đang ở Luật Bằng thì lại đổi sang Luật Trắc. Vì Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm. 
    Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 CAPITALIZED): 

    Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng, 
    Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung! 
    Năm THÌ mười họa, nên chăng chớ, 
    Một THÁNG đôi lần, có cũng không... 
    Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng, 
    Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công. 
    Thân NÀY ví biết dường này nhỉ, 
    Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong. 

    Đổi thành thất niêm: 

    Kẻ ĐẮP chăn bông, kẻ lạnh lùng, 
    Chém CHA cái kiếp lấy chồng chung! 
    Cố ĐẤM ăn xôi, xôi lại hỏng *** (thất niêm) ***
    Cầm BẰNG làm mướn, mướn không công. 
    Năm THÌ mười họa, nên chăng chớ, 
    Một THÁNG đôi lần, có cũng không... 
    Thân NÀY ví biết dường này nhỉ, 
    Thà TRƯỚC thôi đành ở vậy xong. 

    Chú ý: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết dường nào! 

    Khi làm thơ Đường Luật thì phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa thì cũng không thể chấp nhận được. 

    Như đã nêu ra ở trên là các câu đối với nhau phải thật chỉnh. Có điều là không bắt buộc phải từng chữ một đối nhau mà có thể đối theo cụm từ. Nếu 3 chữ tạo thành nhóm danh từ (ở câu 3 chẳn hạng) thì ở câu 4 cũng dùng 3 chữ cùng nhóm để đối lại

    Ví dụ

    Ngày vương mãi nhớ hương tình cũ 
    Tháng quyện hoài mong bóng dáng xưa

    (Trích "Xóm Tịnh Chiều Luyến Nhớ"—Vân Hạc)

    Ngày (danh từ, bằng) đối với tha’ng (danh từ, trắc) 
    vương (động từ, bằng) đối với quyện (động từ, trắc)
    mãi (phó từ, trắc) đối với hoài (phó từ, bằng)
    nhớ (động từ, trắc) đối với mong (động từ, bằng). 
    hương tình cũ (cụm danh từ) đối với bóng dáng xưa (cụm danh từ)


    B.Thơ Tuyệt Cú 

    Tuyệt cú theo nghĩa đen là ngắt câụ Là một thể thơ bốn câu (còn gọi là tứ tuyệt), có thể là cổ phong hoặc thơ luật, nhưng ý tứ, ý nghĩa phải trọn vẹn, sâu sắc. Cũng phải có mở có kết, có thể hiện nội dung chủ đề mình định nói 

    Ví dụ:

    Chim buồn lẻ bạn chốn thâm sơn 
    Cánh ngã chao nghiêng ngắm nguyệt thường 
    Én lạc cô phòng thương nắng hạ 
    Diều đây lẻ phận nhớ thu đơn
    (Nguyễn Duy)

    Lối làm thơ tuyệt cú có thể tuân theo luật bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối của ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Ở thể cổ phong, thơ tuyệt cú càng rộng rãi hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng trắc, miễn là ý tứ sâu sắc, lời đẹp, giầu âm điệu ... 


    Phong Kiều Dạ Bạc (Trương Kế ) 

    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên 
    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên 
    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự 
    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền 


    Đêm thuyền đậu bến Phong Kiều (Bản dịch của Tản Đà) 

    Trăng tà, chiếc quạ kêu sương, 
    Lửa chài, cây bến, sầu vương giấc hồ. 
    Thuyền ai đậu bến Cô Tô, 
    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San. 



    IV-Cách Họa Đường Thi:

    Cao nhất trong Đường Thi là họa thơ với người khác. Khi họa một bài Đường Thi, người họa phải dùng lại các từ mang vần (chữ cuối của câu 1,2,4,6,8) của bài thơ muốn họa (gọi là bài XƯỚNG) và diễn tả theo ý thơ của mình. Bài họa nằm trong 3 loại tiêu biểu: Hoạ Vần, Họa Vần Đối Luật và Họa Nguyên Vận.

    1) Họa Vần: Dĩ nhiên bài HỌA phải dùng lại vần của bài XƯỚNG, nhưng luật có thể thay đổi và ý nghĩa của bài Họa hoàn toàn khác với bài XƯỚNG. 

    Ví dụ như trong trường hợp VH dùng vần bài “Nhớ Nhà” của Bà HTQ để làm bài “Cảnh Vật Ngày Xuân”


    Nhớ Nhà (Bà HTQ—Xướng)

    Vàng tỏa non tây, bóng ác tà 
    Ðầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa 
    Ngàn mai lác đác, chim về tổ 
    Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà 
    Còi mục thét trăng miền khoáng dã 
    Chài ngư tung gió bãi bình sa 
    Lòng quê một bước càng ngao ngán 
    Mấy kẻ tình chung có thấu là


    Cảnh Vật Ngày Xuân (Vân Hạc—Họa vần)

    Lụa thắm tung bay phất phới tà
    Vườn hồng rực rỡ bướm vờn hoa
    Xanh xanh khóm trúc xinh bờ dậu
    Trắng muốt cành lê đẹp góc nhà
    Trước ngõ mai đào chờ nắng xuống
    Bên thềm cúc lựu đón sương sa
    Hương trời sắc nước nên thơ quá
    Cảnh vật ngày Xuân quả thật là…


    2) Họa Vần Đối Luật: Như tên gọi, bài HỌA dùng luật trái với bài XƯỚNG. Nếu bài Xướng gieo theo Luật Bằng thì bài Họa đi theo Luật Trắc và ngược lại.

    Ví dụ:

    Xuân Hứng (Hàn Mặc Tử—Luật Bằng)

    Non sông ngàn dặm ngắm càng xinh 
    Ừ tết năm nay thật hữu tình 
    Pháo nổ nổ tan luồng thất nghiệp 
    Xuân về về ghẹo khách ba sinh 
    Hoa tươi sánh với thiên kiều gái 
    Cảnh đẹp dường như thủy mặc tranh 
    Cao hứng đã toan cầm bút vịnh 
    Đào nguyên đâu lại thoảng qua mành 


    Xuân Mộng (Họa by Vân Hạc—Luật Trắc)

    Cảnh vật khoe mình dưới nắng xinh
    Kià Xuân đã đến đượm hương tình
    Tưng bừng pháo nổ mừng hồi phục
    Rộn rã lời chào chúc tái sinh
    Vạn bướm hòa màu tô mộng cảnh
    Ngàn hoa trải sắc vẽ mơ tranh
    Bên song thiếu nữ cười duyên dáng
    Cứ ngỡ bồng lai đứng tựa mành




    3) Hoạ Nguyên Vận: Ngoài việc giữ cùng luật, bài họa phải có chủ đề và ý nghĩa giống như bài Xướng.

    Ví dụ:

    Trời Quê Luyến Nhớ (Xướng by Vân Hạc)

    Luyến nhớ trời quê buổi nắng vàng
    Đàn em hớn hở hát reo vang
    Bờ xa thấp thoáng đò đầy chuyến
    Bến cũ xôn xao chợ lắm hàng
    Bát ngát nương dâu dài cuối xóm 
    Bao la ruộng lúa ngập thôn trang 
    Tha phương vọng mãi mùa Xuân trước 
    Viễn xứ miên man nỗi nhớ làng 


    NHỚ QUÊ XƯA (Hoạ by Bích Trân)

    Đàn bướm vờn hoa dưới nắng vàng
    Hè về phượng nở, giọng ve vang
    Cành cây chim chóc gù xây tổ
    Bến chợ thuyền ghe bốc dở hàng
    Chán cảnh bon chen rời phố thị
    Vui đời mộc mạc đến thôn trang
    Quê người vẫn nhớ về quê cũ
    Nhớ mái nhà xưa nhớ xóm làng

    Vân Hạc (biên soạn)



    CÁC THỂ LOẠI TIÊU BIỂU TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

    Ngoài việc các câu 3,4 and 5,6 phải đối, thời bấy giờ các nhà thơ còn đưa ra các thể loại đặc thù, được coi như là những "xảo thuật" để chứng tỏ người viết giỏi về từ ngữ và tạo thêm sự gay cấn cho người họa . Dưới đây là một vài thể loại tiểu biểu thường thấy trong thơ Đường Luật .

    1) Thủ Nhất Thanh: Là thể thơ trong đó từ đứng đầu các câu đều giống nhau. 

    Ví dụ: 

    Mừng đón xuân về, muôn sắc hoa 
    Mừng xuân,xuân mới, mới thêm ra 
    Mừng nghe nhựa sống, như còn trẻ 
    Mừng thấy đời tươi, chửa muốn già 
    Mừng khỏe đôi chân, đi đứng vững 
    Mừng tinh cặp mắt ngắm nhìn xa 
    Mừng nhau tuổi Thọ tăng tăng mãi 
    Mừng được trường xuân hưởng thái hòa 

    (Tám Mừng—Lạc Nam)


    2) Thủ Vĩ Ngâm: Là thể thơ trong đó câu đầu (thủ) và câu cuối (vĩ) giống nhau..

    Ví dụ:

    Sông Hương da diết một chiều xưa 
    Mới đó mà nay đã mấy mùa 
    Nỗi nhớ xôn xao vờn gió thoảng 
    Niềm thương rạo rực quyện mây thưa 
    Chiều tà bóng ngả phai phai nắng 
    Đêm vắng trăng mờ lất phất mưa 
    Núi Ngự trông xa lầu vọng nguyệt 
    Sông Hương da diết một chiều xưa

    (Bến Tương Tư—Gia Phong)


    3) Vĩ Tam Thanh: Là thể thơ trong đó ba từ cuối trong mỗi câu có cùng cách phát âm.

    Ví dụ: 

    Ta nghe gà gáy tẻ tè te 
    Bóng ác vừa lên hé hẻ hè 
    Cây một chồi cao von vót vót 
    Hoa năm sắc nở lỏe lòe loe 
    Chim tình bè lứa kia kìa kỉa 
    Ong nghĩa vua tôi nhé nhẻ nhè 
    Danh lợi mặc người ti tí tỉ 
    Ngủ trưa chửa dậy khỏe khòe khoe 

    (Ngẫu Hứng—Vô Danh) 


    4) Tiệt Hạ: Là thể thơ câu nào cũng bỏ lửng như bị ngắt bớt ở cuối câu nhưng ý nghĩa rõ rệt, người đọc có thể hiểu được..

    Ví dụ:

    Thác bức rèm châu chợt thấy mà…!
    Chẳng hay người ngọc có hay đà …!
    Nét thu dợn sóng hình như thể …
    Cung nguyệt quang mây nhác ngỡ là …
    Khuôn khổ ra chiều người ở chốn …
    Nết na xem phải thói con nhà …
    Dở dang nhắn gửi xin thời hãy …
    Tình ngắn tình dài chút nữa ta …

    (Vô Danh)


    5) Song Điệp: Là thể thơ mỗi câu đều có cặp điệp từ ở đầu hoặc cuối câu.. 

    Ví dụ: 

    Vất vất vơ vơ, cũng nực cười 
    Căm căm cúi cúi có hơn ai 
    Nay còn chị chị anh anh đó 
    Mai đã ông ông mụ mụ rồi 
    Có có không không, lo hết kiếp 
    Khôn khôn dại dại, chết xong đời 
    Chi bằng láo láo lơ lơ vậy 
    Ngủ ngủ ăn ăn nói chuyện chơi 

    (Chuyện Đời –Nguyễn Công Trứ)


    6) Thuận nghịch: Là thể thơ khi đọc xuôi hay đọc ngược đều có ý nghĩa và hợp vận. 

    Ví dụ:

    Đọc xuôi:

    Xa cách quê làng lại ghé thăm 
    Xát xơ vàng úa cỏ nghiêng nằm 
    Nhà hiên mái dột Bìm giăng kín 
    Ngỏ trước thềm loang Dậu phủ dăm 
    Tha thướt bóng Dừa hàng nối thẳng 
    Ngã nghiêng cành Trúc dãy liền tâm 
    Tà chiều quyện khói mờ thôn xóm 
    Xa vọng khoan hò ai hát ngâm …

    Đọc ngược từ dưới trở lên:

    Ngâm hát ai hò khoan vọng xa
    Xóm thôn mờ khói quyện chiều tà
    Tâm liền dãy Trúc cành nghiêng ngã
    Thẳng nối hàng Dừa bóng thươ’t tha
    Dăm phủ Dậu loang thềm trước ngỏ
    Ki’n giăng Bìm dột mái hiên nhà
    Nằm nghiêng cỏ úa vàng xơ xác
    Thăm ghé lại làng quê cách xa …

    (Trường Tương Tư)

    ***Sau đó bỏ hai chữ đầu mỗi câu đọc xuôi và bỏ hai chữ cuối mỗi câu đọc ngược sẽ trở thành thơ Ngũ Ngôn . Nếu tiếp tục bỏ bớt 1 hoặc 2 chữ đầu or cuối nữa, sẽ có những bài Tứ Ngôn hay Tam Ngôn Bát Cú. Nói tóm lại, một bài thơ làm theo thể Thuận Nghịch, nếu được chọn từ một cách khéo léo, sẽ đọc thành 8 bài Bát Cú! Đó là điểm độc đáo của Thể Thuận Nghịch!***


    7) Liên Hoàn: Là thể thơ gồm nhiều bài Bát Cú liên kết với nhau, trong đó phần kết thúc của bài trên được lấy làm phần mở đầu cho bài kế tiếp.

    Ví dụ:

    Bao năm cách biệt Huế yêu ơi
    Viễn xứ chiều buông nhạt tiếng cười
    Vọng cảnh thương tình ngày lẻ bạn
    Nhìn người luyến nghĩa buổi chung đôi
    Sông Hương liễu rũ ôm tình nước 
    Núi Ngự thông reo trãi mộng đời
    Cố quận sương mờ giăng chắn lối
    Bùi ngùi lữ khách đếm sầu rơi

    Sầu rơi cảnh vật nhuộm cô liêu
    Rặng núi xa xa phủ ráng chiều
    Ẩn hiện trời cao mây ảm đạm
    Hoà lòng biển vắng sóng đìu hiu
    Âm ba cuốc vọng lời kinh khổ 
    Réo rắt quyên ca điệu sáo diều
    Đất lạ phong trần đời lữ thứ
    Phiêu bồng vẫn giữ trọn lời yêu

    Lời yêu thuở ấy tự tình trao
    Ước hẹn tơ duyên thắm chỉ đào
    Cứ tưởng men nồng hoà nhật nguyệt 
    Nào ngờ rượu đắng tách trăng sao
    Cung đàn lổi nhịp dòng châu ứa
    Tiếng hát buông lơi suối lệ trào
    Mấy độ thu tàn mơ ảo giác
    Tâm đầu ý hợp mộng hư hao

    Hư hao một cõi vẫn hoài trông
    Cách biệt sơn khê luống nghẹn lòng
    Khắc khoãi người chờ nơi chốn ấy
    Bàng hoàng kẻ đợi giữa tầng không
    Cô phòng héo hắt thân nhi nữ
    Gối chiếc tàn phai phận má hồng
    Một thuở xa người sang xứ lạ
    Hồn hoang chất chứa những ngày đông

    (Vọng Cảnh Thương Tình Liên Hoàn Khúc—Vân Hạc)


    8) Lưỡng Đầu Xà Nghịch Thiệt: Là thể thơ trong đó hai chữ cuối câu là cách nói lái của hai chữ đầu câu hay ngược lại.

    Ví dụ:

    Cai mô chả thấy hỡ cô Mai 
    Hồi bút hôm qua, nay hút bồi 
    Niếu đổ tường che vang nổ điếu 
    Thôi liên, cù cứa, hẹn Thiên Lôi 
    Vái sơ ông Địa cho vơ sái 
    Ngồi ráp bàn tiên lại ngáp rồi 
    Tánh thích đi tìm bao tích thánh 
    Đồi thanh, cảnh phật cũng đành thôi

    Sưu tầm


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thị Thúy Hằng @ 10:14 28/03/2013
    Số lượt xem: 772
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến