111
Thơ Đường Luật

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: ST
Người gửi: Trần Thị Thúy Hằng (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:23' 28-03-2013
Dung lượng: 457.5 KB
Số lượt tải: 8
Nguồn: ST
Người gửi: Trần Thị Thúy Hằng (trang riêng)
Ngày gửi: 10h:23' 28-03-2013
Dung lượng: 457.5 KB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
LUẬT THƠ ĐƯỜNG
Phí Minh Tâm
Đọc, ngâm, dịch, họa, thậm chí làm thơ Đường của Trung Hoa là một thú tiêu khiển tao nhã của người Việt Nam và nhiều dân tộc khác trên thế giới. Nhưng đối với người Việt thơ Đường gần gũi hơn là mới nhìn thoáng qua. Thơ Đường hay Đường Thi là thơ được sáng tác vào thời nhà Đường (618-907 Tây lịch) gần 1100 năm về trước. Do đó khi nói làm thơ Đường có lẽ ta nói đến làm một thể thơ theo luật thơ của nhà Đường. Phải gọi thể thơ đó là thơ Luật (luật thihay thơ Đường Luật đúng hơn là thơ Đường.
Theo cách phân chia các chương mục trong Đường Thi Tam Bách Thủ của Hàng Đường Thoái Sĩ, ta có thể nhận ra 6 thể thơ Đường chia làm 2 nhóm: thơ Cổ phong hay Cổ thể và thơ Luật hay thơ Đường Luật.
Cổ phong hay Cổ thể gồm 2 thể:
Cổ phong ngũ ngôn
Cổ phong thất ngôn
Thơ Luật hay thơ Đường Luật gồm 4 thể:
Ngũ ngôn bát cú - 5 chữ 8 câu
Thất ngôn bát cú - 7 chữ 8 câu
Ngủ ngôn tuyệt cú - 5 chữ 4 câu
Thất ngôn tuyệt cú - 7 chữ 4 câu
1. Thơ Cổ Phong Hay Cổ Thể
Thơ Cổ phong hay Cổ thể là thơ có từ nhiều thời đại trước đời nhà Đường. Thơ Cổ phong khác với thơ Đường Luật ở một điểm chính là chỉ cần vần chứ không phải tuân thủ theo luật bằng trắc và các quy định khác của thơ Đường Luật.
1.1 Vần
Thơ Cổ phong khá tự do về vần. Bài thơ có thể có nhiều vần hay chỉ có 1 vần. Bài Xuân Tứ của Lý Bạch chỉ có 1 vần.
Dịch thơ: Ý Xuân
Cỏ Yên mịn như tơ
Dâu Tần xanh phủ bờ
Anh mong ngày trở lại
Đứt ruột em đợi chờ
Gió Xuân1 nào quen biết
Cớ sao lay màn tơ.
1.2 Số Chữ Trong Câu
Thơ Cổ phong ngũ ngôn có 5 chữ trong câu và thơ Cổ phong thất ngôn có 7 chữ trong câu. Tuy nói là ngũ ngôn hay thất ngôn, thơ Cổ phong có thể có nhiều hơn hay ít hơn số chữ quy định. Bài Hành Lộ Nan của Lý Bạch có 2 câu 6 chữ.
Dịch thơ: Ðường Ði Khó Khăn
Rượu thơm chén quý đáng mười ngàn Món ngon mâm ngọc giá muôn vàng Chén đũa buông rơi nhai khó nuốt Tuốt kiếm tứ bề dạ ngổn ngang Muốn vượt Hoàng Hà băng ngăn chặn Leo núi Thái Hàng tuyết chưa tan Nhàn rỗi thả câu trên suối lạnh Mơ thấy lướt thuyền hướng thiên san Ðường đi khăn khó khăn khó quá Bao nhiêu lối rẽ lối nào an Cởi gió rẽ mây rồi có lúc Căng buồm vượt biển dễ từ nan.
1.3 Số Câu
Thơ Cổ phong không quy định số câu trong bài. Đoản thiên có 4, 6 hoặc 8 câu. Trường thiên có nhiều câu hơn, có từng phần mạch lạc và cấu trúc hợp lý. Bài Tây Thi Vịnh của Vương Duy dưới đây có 14 câu 5 chữ. Bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị có 88 câu 7 chữ.
2. Thơ Luật hay Thơ Đường Luật
Theo luật của thơ Đường Luật, một bài thơ phải đáp ứng được các yêu cầu về luật bằng trắc, niêm vận, cấu trúc và đối xứng của bài thơ. Giá trị của bài thơ, ngoài ý tứ, được dựa chặt chẽ vào các qui định này. Thể Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) có nhiều chữ nhất được giải thích ở đây vì phức tạp hơn hết. Dựa trên các hiểu biết về luật của thơ TNBC, luật của thơ Ngũ Ngôn Bát Cú (NNBC), Thất Ngôn Tứ Tuyệt (TNTT) và Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (NNTT) sẽ được trình bày bằng cách làm đơn giản hay bớt đi các yêu cầu của thể TNBC.
2.1 Luật Bằng Trắc
Luật Bằng Trắc gồm có: Thanh, Luật, Niêm và Vận
2.1.1 Thanh
Gồm 2 Thanh Bằng và Thanh Trắc.
2.1.1a Thanh Bằng (B) là những tiếng hay chữ không có dấu như: hoa, âm, thanh... và những tiếng hay chữ có dấu huyền ( `) như: hòa, người, trời...
1.1b Thanh Trắc (T) là những tiếng hay chữ có dấu sắc ( ` ), dấu hỏi ( ? ), dấu ngã ( ~ ), và dấu nặng ( . ). Ví dụ: lá, đáo, tưởng, đỉnh, cũ, vĩ, tự, lộ...
2.1.2 Luật
Luật của bài thơ TNBC được căn cứ vào chữ thứ
Phí Minh Tâm
Đọc, ngâm, dịch, họa, thậm chí làm thơ Đường của Trung Hoa là một thú tiêu khiển tao nhã của người Việt Nam và nhiều dân tộc khác trên thế giới. Nhưng đối với người Việt thơ Đường gần gũi hơn là mới nhìn thoáng qua. Thơ Đường hay Đường Thi là thơ được sáng tác vào thời nhà Đường (618-907 Tây lịch) gần 1100 năm về trước. Do đó khi nói làm thơ Đường có lẽ ta nói đến làm một thể thơ theo luật thơ của nhà Đường. Phải gọi thể thơ đó là thơ Luật (luật thihay thơ Đường Luật đúng hơn là thơ Đường.
Theo cách phân chia các chương mục trong Đường Thi Tam Bách Thủ của Hàng Đường Thoái Sĩ, ta có thể nhận ra 6 thể thơ Đường chia làm 2 nhóm: thơ Cổ phong hay Cổ thể và thơ Luật hay thơ Đường Luật.
Cổ phong hay Cổ thể gồm 2 thể:
Cổ phong ngũ ngôn
Cổ phong thất ngôn
Thơ Luật hay thơ Đường Luật gồm 4 thể:
Ngũ ngôn bát cú - 5 chữ 8 câu
Thất ngôn bát cú - 7 chữ 8 câu
Ngủ ngôn tuyệt cú - 5 chữ 4 câu
Thất ngôn tuyệt cú - 7 chữ 4 câu
1. Thơ Cổ Phong Hay Cổ Thể
Thơ Cổ phong hay Cổ thể là thơ có từ nhiều thời đại trước đời nhà Đường. Thơ Cổ phong khác với thơ Đường Luật ở một điểm chính là chỉ cần vần chứ không phải tuân thủ theo luật bằng trắc và các quy định khác của thơ Đường Luật.
1.1 Vần
Thơ Cổ phong khá tự do về vần. Bài thơ có thể có nhiều vần hay chỉ có 1 vần. Bài Xuân Tứ của Lý Bạch chỉ có 1 vần.
Dịch thơ: Ý Xuân
Cỏ Yên mịn như tơ
Dâu Tần xanh phủ bờ
Anh mong ngày trở lại
Đứt ruột em đợi chờ
Gió Xuân1 nào quen biết
Cớ sao lay màn tơ.
1.2 Số Chữ Trong Câu
Thơ Cổ phong ngũ ngôn có 5 chữ trong câu và thơ Cổ phong thất ngôn có 7 chữ trong câu. Tuy nói là ngũ ngôn hay thất ngôn, thơ Cổ phong có thể có nhiều hơn hay ít hơn số chữ quy định. Bài Hành Lộ Nan của Lý Bạch có 2 câu 6 chữ.
Dịch thơ: Ðường Ði Khó Khăn
Rượu thơm chén quý đáng mười ngàn Món ngon mâm ngọc giá muôn vàng Chén đũa buông rơi nhai khó nuốt Tuốt kiếm tứ bề dạ ngổn ngang Muốn vượt Hoàng Hà băng ngăn chặn Leo núi Thái Hàng tuyết chưa tan Nhàn rỗi thả câu trên suối lạnh Mơ thấy lướt thuyền hướng thiên san Ðường đi khăn khó khăn khó quá Bao nhiêu lối rẽ lối nào an Cởi gió rẽ mây rồi có lúc Căng buồm vượt biển dễ từ nan.
1.3 Số Câu
Thơ Cổ phong không quy định số câu trong bài. Đoản thiên có 4, 6 hoặc 8 câu. Trường thiên có nhiều câu hơn, có từng phần mạch lạc và cấu trúc hợp lý. Bài Tây Thi Vịnh của Vương Duy dưới đây có 14 câu 5 chữ. Bài Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị có 88 câu 7 chữ.
2. Thơ Luật hay Thơ Đường Luật
Theo luật của thơ Đường Luật, một bài thơ phải đáp ứng được các yêu cầu về luật bằng trắc, niêm vận, cấu trúc và đối xứng của bài thơ. Giá trị của bài thơ, ngoài ý tứ, được dựa chặt chẽ vào các qui định này. Thể Thất Ngôn Bát Cú (TNBC) có nhiều chữ nhất được giải thích ở đây vì phức tạp hơn hết. Dựa trên các hiểu biết về luật của thơ TNBC, luật của thơ Ngũ Ngôn Bát Cú (NNBC), Thất Ngôn Tứ Tuyệt (TNTT) và Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt (NNTT) sẽ được trình bày bằng cách làm đơn giản hay bớt đi các yêu cầu của thể TNBC.
2.1 Luật Bằng Trắc
Luật Bằng Trắc gồm có: Thanh, Luật, Niêm và Vận
2.1.1 Thanh
Gồm 2 Thanh Bằng và Thanh Trắc.
2.1.1a Thanh Bằng (B) là những tiếng hay chữ không có dấu như: hoa, âm, thanh... và những tiếng hay chữ có dấu huyền ( `) như: hòa, người, trời...
1.1b Thanh Trắc (T) là những tiếng hay chữ có dấu sắc ( ` ), dấu hỏi ( ? ), dấu ngã ( ~ ), và dấu nặng ( . ). Ví dụ: lá, đáo, tưởng, đỉnh, cũ, vĩ, tự, lộ...
2.1.2 Luật
Luật của bài thơ TNBC được căn cứ vào chữ thứ
 







Các ý kiến mới nhất